PGS-TS Vũ Nho
Thông thường, với một tác giả thì tập truyện đầu
tay, có thể chỉ là những thể nghiệm với thể loại. Người ta dễ dàng nhìn thấy
nhưng nét tươi mới, khác lạ, nhưng đa phần là nhìn thấy những gì còn non nớt, vụng
về, khiếm khuyết cần sớm được khắc phục, nếu muốn đi xa. Nhưng cũng có những
người, ngay tập truyện ngắn đầu tiên trình làng, đã thể hiện độ chín và sự
thành thục kĩ thuật nghề nghiệp, khiến người ta có ấn tượng mạnh. “Người
xa lạ” của Nguyễn Vinh Huỳnh là tập truyện ngắn như vậy. Và quả nhiên đến tập
truyện ngắn Đồng Đẳng, Nguyễn Vinh Huỳnh
đã cho thấy những ấn tượng về tập truyện ngắn đầu tay của anh là chính xác. Nguyễn
Vinh Huỳnh đã trở thành một cây bút chững chạc, đã sớm chín trong thể loại anh
theo đuổi.
Trong tập truyện mới
này, Nguyễn Vinh Huỳnh có đăng lại mấy truyện đã in. Nhưng hầu như anh đã có
trăn trở, sửa chữa, viết thêm. Chẳng hạn truyện “Trai làng” được sửa thành “ Thăng trầm”, và Cả Lẫm đã không chết đuối,
mà thành công trong việc kinh doanh mới. Đây không chỉ đơn thuần là tạo ra một
kết thúc có hậu. Phải chăng, tác giả muốn ủng hộ và khẳng định quyết tâm của
người trẻ tuổi làm giàu ngay trên mảnh đất nông thôn của cha ông mình? “Chuyên tình tang” cũng được viết thêm và
đổi tên thành “Tình cho không biếu không”
với lời đề từ rút từ thơ Phạm Công Trứ: “Tình yêu, ai bán mà mua/ Ai cho mà lấy,
ai thừa mà xin…”. Đoạn viết thêm theo tôi, làm cho truyện ngắn dày dặn thêm và
đa thanh hơn. Đặc biệt nhân vật Tú nói ngọng
càng thể hiện rõ tính cách hồn nhiên của cô. Truyện “Ông lão về hưu” cũng được sửa chữa, bổ sung và mang tên gọn hơn “Về hưu”. Điều đó cho thấy một Nguyễn Vinh
Huỳnh không bằng lòng với những gì đã có và ý thức vượt lên chính mình.
Có thể bắt gặp hầu như
mọi vấn đề đang nóng của đời sống trong những câu chuyện của phần lớn là những
người trẻ. Từ chuyện xin việc không xong của anh sinh viên mới ra trường, đi
làm xe ôm, đến chuyện các cô gái làm nghề mại dâm, gái vũ trường tuổi chưa quá
hai mươi (Tình cho không, biếu không, Em);
từ chuyện tắc đường, cạnh tranh khốc liệt, (Trợ lí
đại diện, Cạnh tranh) đến chuyện trượt đại học, sung vào đội quân đào mả chôn
người (Nghĩa tử); từ chuyện buôn bán
nhảy tàu bị lừa mất sạch về mo quay về kinh doanh trên mảnh đất làng (Thăng trầm) đến chuyện bị lừa tình của một
cô gái một con phố huyện (Vợ dại). Rồi
chuyện về hưu của một ông cán bộ khổ sở vì vừa phải chăn lợn, vừa phải trông
cháu mà chẳng việc nào xong (Về hưu),
chuyện huyễn tưởng của hai văn sĩ tài thấp những khát vọng cao (Hão), chuyện tình đầu của một cô sinh
viên (Ánh mắt), chuyện móc túi trên
xe buýt và lừa tình (Gái quê)...Tất cả
đều sắc nét, mạch lạc, nổi cộm lên gắn liền với những tình huống, những nhân vật;
tạo cho truyện có độ sâu, khiến người đọc không thể không trăn trở, suy nghĩ.
Có thể thấy cách vào
truyện của tác giả thường ngắn gọn, đi ngay vào vấn đề của nhân vật, đi ngay
vào tình huống mâu thuẫn hay xung đột cần giải quyết. Hầu như ta không bắt gặp
những đoạn ngoại đề, những tả cành, tả cảnh rề rà làm chậm nhịp độ trần thuật.
Đây chính là cách viết của các tác giả hiện đại. Nó tạo ra một sự khác biệt rõ
rệt với lối viết cổ điển.
Đây là mở truyện của
truyện “Tình cho không biếu không”:
“Trí thức ấy là tầng lớp của tôi.
Cử
nhân ấy là học vị của tôi.
Thất
nghiệp ấy là cái vị thế của tôi.”
Vào truyện “Gái quê” thì khác:
“Thời gian đẩy lão lệch ra bên lề cuộc sống. Ông già bà cả lũ lượt rủ nhau
sang thế giới bên kia, đồng bọn của lão dần thưa thớt đi. Đám trẻ lớn lên nhìn
lão như một di tích của làng. Chúng cư xử với lão ngày càng khả ố. Chán.”
Còn đây là đoạn mở đầu
của truyện “Em”:
“Nếu chỉ thoáng nhìn gương mặt trái xoan hồng hào mơn mởn và cặp mắt bê
non ướt rợt của em, khối chú trống choai bị lừa.Cả tôi, tôi cũng vậy. Tôi bắt
quen em trong một vũ trường disco. Em hấp dẫn tôi ngay bởi phoóc người dây và cặp
giò người mẫu.”
Mở đầu truyện “Thăng trầm”:
“Cả Lẫm về làng.Chiếc ba lô kẹp lép tòng teng trên lưng, dáng đi thất thểu,
mẹo mọ.Vẻ mặt nhầu nhĩ u uất đượm vẻ cay cú gặp ai cũng chả buồn chào.
Tối.
Lẫm ngồi nốc rượu thở hắt ra.”
Có thể thấy các câu văn
đều ngắn. Trần thuật hết sức gọn. Và bao giờ, tác giả cũng gài sẵn một tình huống
làm cho người đọc phải chú ý ngay vào nhân vật hoặc vấn đề liên quan đến nhân vật.
Phải là một người thành thục kĩ thuật dựng truyện và tự tin vào khả năng tự sự
của mình mới có thể viết như vậy.
Các nhân vật của Nguyễn
Vinh Huỳnh được chăm chút khá kĩ lưỡng. Nhân vật nào cũng đầy tâm trạng và gần
như bức bối, căng thẳng trước tình huống đang lâm vào. Người đọc chẳng biết được
cái gì sẽ tiếp theo. Chẳng hạn ông lão sợ hãi khi thấy kẻ móc túi, nhưng cuối
cùng ông đã vượt qua nỗi sợ để can thiệp. Rồi cái anh Mô tử tế, hóa ra là gã
lưu manh có số má, giỏi tiếng Anh, chuyên đú với Tây, chăn cô gái nhà lành để
kiếm đô bằng cách lừa tình công phu (Gái
quê). Anh chàng Nhân, mới đi làm cho
công ti nước ngoài mà đã thành công mĩ mãn ngay trong thương vụ đầu tiên, nhưng
lại đùng đùng xin thôi việc làm cho cả tay
Mark người nước ngoài lẫn nhiều người không hiểu nổi (Cạnh tranh).
Hoặc có thể biết được
nhưng vẫn không khỏi ngạc nhiên. Chẳng hạn hai người trong khách sạn:
“Tôi ngẩn ngơ ngồi, ngẩn ngơ nghĩ, ngẩn ngơ nhìn.
Tú
thản nhiên ngồi, thản nhiên vén váy, thản nhiên vo vo tất chân, thản nhiên ngửa
cổ rũ tóc, thản nhiên giục tôi.” (Tình cho không biếu không).
Chỉ bấy nhiêu thôi cũng
đủ cho thấy hai tâm trạng, hai con người, một lơ ngơ, một trải đời, sành sỏi.
Hay đối với Tân, một cô
gái nhạy cảm, ánh mắt của anh chàng Hải có biệt danh là Habeo luôn luôn thiêu đốt
cô (Ánh mắt). Nhưng không chỉ có một
ánh mắt ấy. Còn có ánh mắt “lóe lên sự
khinh bỉ và căm hờn” của Hải khiến Hùng phải chờn chợn, và những “ánh mắt khinh bỉ” của lũ thuộc hạ
ném về phía thủ lĩnh Hùng bị Hải bất ngờ cho đo ván.
Dẫn dắt người đọc bằng
những tình huống bất ngờ, đột ngột, không đoán trước. Mặt khác, tác giả còn dẫn
dắt bằng lối tự sự khách quan, linh hoạt, bằng ngôn ngữ của người kể chuyện vừa
nghiêm trang, lọc lõi, vừa đượm vẻ hài hước, đôi khi thâm trầm, kìm nén... Giọng điệu trần thuật
khá lôi cuốn cũng là một ưu điểm đáng kể. Bên cạnh đó, khả năng miêu tả là một
mặt nổi trội của tác giả.
Mỗi vị thầy giáo của
“khóa viết văn cấp tốc” là một chân dung độc đáo về các dị nhân được miêu tả với
những nét phúng dụ, trào lộng tưng tửng. Tất nhiên những ông thầy ấy sẽ làm cho
những anh trò của mình hoắng lên, làm những hành động dở dở, điên điên nhưng cứ
tưởng thế mới xứng đáng là văn sĩ (Hão). Còn đây là một đoạn đặc tả trong quán
karaoke:
“Sếp Cấn cả hứng ôm các em ra mà nhảy, mà kéo, mà xếch xác, trông chả
khác gì mèo tha chuột. Sếp cứ ghé sát, ghì riết, hít hà, bàn tay du lịch lên
lên xuống xuống như thang máy trên lườn trên ngực của cô tiếp viên. Nói tóm lại
sếp chỉ thay đổi từ kiểu ôm ngồi sang kiểu ôm đứng. Sau một hồi cọ sát theo
phương thẳng đứng, sóng tình đã dậy, sếp không kiềm chế được nữa, bèn chuyển
sang thế nằm ngang. Tiện bàn ăn, sếp đè ngấu đè nghiến cô cave lên bàn tênh
hênh, hêu hếu như con lợn cạo mà hì hục “móc lốp” hành sự. Những son môi, những
da thịt, những váy áo, những tóc tai, những rau sống, những Uýt-ki, những tương
ớt, những bơ thừa, sữa cặn lộn lèo trong cơn nứng tình của sếp. Em cave chưa đầy
tuổi con gái sếp bị kĩ nghệ “siêu hiện sinh” của sếp tác động vào các vùng đặc
biệt nhạy cảm không nhịn được, cười ré lên như lợn bị chọc tiết” (Cạnh tranh).
Nhìn chung, tác giả tỏ
ra kiệm lời khi miêu tả. Các nhân vật được đặc tả bằng đôi nét, thể hiện bằng một
hai câu vần vèo, khái quát, gây ngay ấn tượng. Chẳng hạn, văn sĩ Tỉnh “ho ra thơ, thở ra văn”. Cô thủ thư điệu
đàng thì “mắt rang lạc, miệng chích chòe”,
người đẹp Thị Thành “Đùi dài, da trắng,
tóc tém, môi cong, mặt nữ hoàng, chân xăng đan, quần ống vẩy và bộ ngực thần sầu”...,
những đồng nghiệp công sở của Tỉnh “tối
ngày chỉ biết cắm mặt vào vi tính, tay loằng ngoằng như dây thép. Da tai tái
như bị cắt tiết. Mặt bợt bạt như người cõi âm. Giọng nhờ nhợ như nước đánh phèn”...
Bản thân Tỉnh thì “thân bại danh liệt rồi,
tiền hết tình tan, đời tàn, trông chả khác gì lão nông tri điền”.
Tác giả không ngại đem
những từ ngữ dân dã, còn tươi ròng như vừa chộp được ngoài đời để làm cho ngôn
ngữ trần thuật biến hóa, linh hoạt. Chẳng hạn một nhân vật cave nói ngọng: “Ôi nại quê nữa, rõ ếch ngồi đáy giếng, anh
cớ thử vào ô tel nãng tử xem nào, cứ
là Ô mê ny tuyệt cú mèo nuôn, bằng mấy cái xó buồng ở thuê của
anh em mình chứ nị, sạch như nau như ni, mát rời rợi hơn quạt Tàu nhá”. (Tình cho không biếu không).
Cuộc trò chuyện của đám
“có đầu, có đuôi không có khúc giữa” (đầu trộm đuôi cướp) trong Gái quê:
-
Này,
thằng A Ka dính rồi?
-
Cho
chết con mẹ nó đi, ai bảo tinh tướng, cậy tiếng Anh dài cứ đú với Tây lắm vào.
-
Mày
cứ láo sau lưng, nó cứu khối thằng đấy.
...
-
Tình
hình thế nào rồi chúng mày?
-
Móm
móm nặng rồi, chuyến này đi bằng đít rồi con ạ, tha hồ ngồi bóc lịch vạn niên.
-
Có
cửa nào gồng cho nó ra không, tao vừa lĩnh “đạn dược” thoải mái.
-
Quên
sầu đau đi em ạ, vụ này dính đến ngoại quốc bỏ qua quận lên thành phố rồi, có
mà giời cứu!
Những
hiểu biết về tuổi trẻ, về giới kinh doanh, về công ti nước ngoài và vốn sống
tích lũy gián tiếp qua sách vở, cộng với một ý thức về nghề nghiệp sau khi học
xong khóa VI (1989 - 1993) Trường viết văn Nguyễn Du đã giúp Nguyễn Vinh Huỳnh
trình làng một tập truyện ngắn chững chạc, có giọng điệu và ấn tượng. Tất nhiên
có thể tìm ra một vài nhược điểm, nhưng tôi không muốn làm điều này. Tôi chỉ muốn
tin rằng với những gì đã có, từ Người xa
lạ đến Đồng đẳng nếu không gặp sự
cố trục trặc, bất ngờ; Nguyễn Vinh Huỳnh có thể đi xa, đi rất
xa.
Cuối tháng 12 năm 2012
Hoàn
thiện tại Nhà sáng tác Nha Trang, tháng 3 năm 2013
* Nguồn: Tạp chí Văn Mới số 3/ 2013


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét