Phạm Thị Thúy Quỳnh.
Ngày, tháng, năm sinh: 05/9/1996
Nguyên quán: Thái Phúc - Thái Thụy - Thái Bình.
Hiện học tập tại thành phố Hòa Bình.
- Giải thưởng: Giải A cuộc thi "Cây bút tuổi
hồng" do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hòa Bình tổ chức.
- Tác phẩm:
+Tập truyện ngắn: "Nhện, Trịnh và Thiên thu"
do Công ty Thiên Đức và NXB Hội Nhà Văn ấn hành.
- Đã đăng truyện ngắn trên một số báo và tạp chí: Báo
Văn nghệ Hòa Bình, Lao động cuối tuần, tạp chí Chư Yang Shin, Văn nghệ Tam
Kỳ...
|
CHÙA CỔ
Truyện ngắn Phạm
Thị Thúy Quỳnh
“Tâm
không uế chướng, nên không sợ hãi, vượt khỏi sai lầm. Tất cả tùy duyên, một đời
tùy duyên mới được tự tại.”
(Tâm
Kinh)
Bên sông có ngôi chùa cổ, ngôi chùa ấy có tên Linh Sơn.
Linh Sơn, Linh Sơn nằm bên kia sông. Muốn qua sông thì phải lụy đò, còn đò ấy
chỉ chở người có duyên, trăm nghìn năm mới có một chuyến. Sông bắt nguồn từ
đâu, chảy về tự phương nào? Sông thì cứ chảy, đời người mãi trôi, ai hay điểm
tận cùng? Nơi ấy là thánh địa Phật môn, là nơi mà những linh hồn khắc khoải
đang trên đường hành hương tìm kiếm lại bản chân diện mục của mình.
Khách gánh trên vai đôi vầng nhật nguyệt, buồn dạo ven bờ,
chờ đợi từ năm này qua năm khác. Khách lẩm nhẩm tính toán:
-
Hôm nay là thứ hai, ngày mai là thứ ba, ngày kia là thứ tư, rồi sẽ hết tuần,
sang tháng, đáo niên, tận kiếp và chuyển thế…
Khách
đã quá quen thuộc với trần gian trầm luân không có đường trở lại, quá quen
thuộc với chốn địa ngục đầy rẫy quỷ ma, duy trong tam giới, có niết bàn là
khách chưa kịp đến. Khách bần thần nhặt một viên sỏi đỏ lấp lánh như ngọc, hỏi:
-
Mi đã cảm thấy cô đơn bao giờ chưa? Hỡi đá?
Viên
sỏi không trả lời.
Khách
đau đáu nhìn lên mặt sông, vung tay liệng mạnh. Vật nọ xoay một vòng trên không
trung rồi bị nuốt trọn, lững lờ rơi trong lòng nước, chìm mãi, chìm mãi… Đi qua
nơi mà những đàn cá thần tiên đang bơi lội.
- Mi
có đớn đau bao giờ không, hả Sông?
Sông
vẫn lặng câm.
Khách
ngẩng đầu lên nhìn tầng không:
- Ông
đã bao giờ cảm thấy cô đơn chưa, hả Trời?
Trời
lặng yên chẳng đáp, bao năm qua, Trời bình thản thấm hút hết nỗi đau của cả
nhân loại mà không oán thán một lời. Khi người ta chịu đựng quá lâu, ôm trong
mình quá nhiều bí mật thì người ta sẽ lặng câm.
Khách
đã chờ ở đây từ bao giờ nhỉ? Không ai còn nhớ rõ nữa, đã chờ đợi bao kiếp,
chuyển thế đầu thai cũng chỉ vì bến chùa ẩn khuất trong màn sương dày nơi xa.
Chữ “Duyên” gánh nặng ngàn cân, chữ “Mệnh” nghìn năm đau đáu. Như một phép màu,
hoặc giả, đó chỉ là sự trùng hợp thôi, khi con đò mỏng manh như lá lúa bình
thản lướt khỏi miền yên vân, trôi trên dòng nước trong xanh tựa khối bích ngọc
khổng lồ không gợn chút tì vết.
Người
lái đò đội chiếc nón tre rộng vành, đầu cúi thấp, những tia nắng lọt qua các
nan tre đổ bóng lốm đốm nhàn nhạt trên hai hàng mi dài bạc trắng, như hư mà như
thực. Khách bỗng nhiên quỳ thụp xuống, nước mắt cứ thế tuôn rơi. Lão lái đò hỏi
vọng lại:
- Hỡi
người đi đò, anh muốn về chốn nao?
-
Thưa ông, tôi muốn tới Linh Sơn. – Khách nghẹn ngào trong ánh nước mắt nhòa ảo.
Lão
lái đò thong dong khỏa chèo đón khách, cười hà hà:
- À,
Linh Sơn… Linh Sơn thì mờ khói mịt sương!
Khách
bước xuống, đôi chân nặng trịch làm trành con đò. Lão lái đò lắc lắc cái đầu:
“Nhân quả chưa dứt.” Khách ngồi nơi lòng đò, trong tâm vẫn cảm thấy trống rỗng
lạ, giờ thì mi đã chờ được gió đông rồi, chùa cổ đang ở trước mắt, vậy mục đích
luân hồi phải chăng đã hoàn thành? Qua sông, qua sông. Có một kẻ mang nợ với
chữ từng nói: “Ai chẳng phải sang sông một lần.” Sang sông là không còn đường
thoái lui, sang sông là tái sinh một kiếp khác.
Khách
bấm đốt ngón tay rồi lại buông xuống, đã quên rồi đớn đau vạn năm chuyển hoán,
trúc trắc hốt nhiên hóa thành tro bụi. Linh Sơn đang ở phía trước kia thôi.
Khách đứng lên, thò chân xuống mặt sông, tròng trành - đò, khách – suýt nữa bỏ
mình, nước lạnh từ từ hòa tan cát bụi trên thân, trả lại đôi chân non nớt sạch
sẽ như thuở ban đầu. Khách mỉm cười thật nhẹ, nói với ông lão lái đò:
-
Thưa ông, ông đã sống ở đây bao nhiêu năm?
-
Bao nhiêu năm? – Lão lái đò lại ngước mắt nhìn vầng thái dương rực sáng nhưng
hiền dịu trên cao, cười bảo. – Tôi không còn nhớ rõ nữa. Ở nơi này không có năm
tháng đâu chàng trai. Thời gian trước… Từng có một cô gái tìm tới Linh Sơn,
không đợi được đò, bèn nhảy xuống sông mà bơi sang bờ bên kia, thế nhưng mệnh
người đều nằm trong vòng con Tạo. Nàng mất đi. Thi thể trôi dạt, chạm bậc thềm
đá thì kết thành ngọc quý. Hiện đang được thờ trong am nhỏ ngay cạnh cổ tự đây
thôi.
Lời lão bình thản như ru, điều sống chết trên đời thì
vô thường lắm, có đớn đau thì cũng đâu lại được với giời xanh. Khách vừa nghe
xong, lệ sa không ngớt, thoáng chốc đã thấm đẫm vạt áo màu thúy liễu còn tươi.
***
Chú cá vàng nhanh chóng lặn sâu xuống đáy nước, trước khi
ẩn thân đã kịp nghe một tiếng chuông chùa. Đò cập vào bờ, đặt chân xuống thềm
đá, Khách tưởng mình còn đang lang thang trong giấc mơ. Nhưng mơ hay tỉnh? Cuộc
đời vốn chỉ là một ván cờ, cờ tàn kịch hạ, thảy sẽ hóa không, can chi băn khoăn
với trò chơi của tạo hóa.
Vừa rồi nắng còn rỏ vàng mà giờ sương móc đã giăng, thiên
nhiên trí trá, nhân lúc Khách còn ngây ngẩn thì đã vội vàng tháo đi ánh sáng,
phủ lên Linh Sơn một tấm màn dày mờ mờ hư ảo. Khách vạch sương, bước lần theo
thềm đá. Hoa rắc trên vai, tỏa mùi hương dìu dịu. Loại hoa gì đây? Loại cây gì
đây? “Bồ đề nào phải cây, gương sáng đâu là đài”[*]… Gió thoảng thổi qua mấy
tầng cây xanh ngắt, dường có bóng người vừa mới thoáng hiện qua. Giá như có
giấy bút, thì ắt hẳn Khách đã làm thơ. Thềm đá ngày một cao, đường tới chùa cổ
cũng chừng như trải dài vô tận. Vẳng nghe tiếng chuông ngân, Khách vô thức chắp
tay niệm nam mô Phật, cõi thiền ru kẻ mê, rửa sạch hết lòng trần bụi bặm.
Theo lời sư phụ, chú tiểu mang thùng đi múc nước dưới sông,
nghịch ngợm khiến đàn cá nhỏ kinh hoảng mà bỏ chạy, tiếng cười trong veo như
ngọc lan đi, đôi giày lấm bùn bé nhỏ vấy lên thềm đá, chú chạy qua nơi Khách
đang đứng bần thần.
“Cửa thiền nghĩ thẹn người si độn,
Để lại câu gì? Nghĩ chửa thông.”[**]
Mái cổ tự cong cong, Phạn âm dần đưa người rời khỏi cõi
tục, hương nhang vấn vít, chẳng hay khách đã đặt chân lên đến sân chùa từ khi
nào? Cửa lớn thâm nghiêm mở rộng, Đức Như Lai cùng chư phật chầu hội, buông ánh
mắt từ bi nhìn xuống nhân gian. Khách thấy lồng ngực thắt quặn, hơi thở chừng
ngừng, mọi nỗi đau đè nén bấy lâu bung ra tràn ngập trong cơ thể. Khách tưởng
như không thể chống đỡ, muốn gục ngã. Mới hay giữa bể trần cuồn cuộn không hề
độ lượng, vẫn còn một thoáng từ bi. Trên mặt bàn còn một chén trà xanh trong,
khách bất giác nâng lên - đây, một chén cay đắng, một chén ngọt ngào, vạn dặm
khói mây thu lại trong từng tia nước xoay vòng - khách dốc cạn cả vụn trà li
ti.
- Xin
hỏi thí chủ tìm ai? – Sư thầy bước ra, chắp tay khom người hỏi khẽ.
- Thưa
thầy, con đi tìm niết bàn. Con đã chờ đợi rất nhiều năm, có lẽ là cả mấy kiếp,
rơi vào vòng luân hồi cũng chỉ vì Linh Sơn này thôi. – Khách quay đầu, trông
thấy thiền sư bèn cúi đầu chắp tay đáp lại.
Sư
thầy mỉm cười, nâng mắt ngắm con nhện đang giăng tơ, thủ thỉ:
- Nơi
đây là Linh Sơn mà cũng không phải là Linh Sơn. Linh Sơn… Thì mờ khói mịt
sương.
Thiên
nhiên lại trí trá, nháy mắt đã kéo sụp mặt trời, trăng sao đang ở nơi nao? Chú
tiểu đã kịp thắp lạp chúc chiếu sáng cổ tự án hương. Có con chuột trắng chạy
qua bò lên đĩa đèn để ăn dầu, mặc cho lông đã bén lửa, nó vẫn không chịu rời
đi. Sư thầy tiến lên, phẩy tắt ngọn đèn, cơ hồ đã quen hơi, chuột vẫn nhẩn nha
nhấm nháp bữa ăn của mình. Khách chợt thấy cảnh vật trước mắt nhòe nhoẹt hẳn
đi, trong không gian có tiếng “rắc” vang lên rất khẽ, mà lại xoáy sâu vào lòng
người, cơ hồ ranh giới trên thế gian đã bị đứt gãy, không thể hàn gắn lại.
Mây
khói bồng bềnh xốp mịn, nhạc du dương văng vẳng quanh đây, nền trời bạc sáng
như ban ngày. Đây là chốn nào? Khách ngơ ngác nhìn quanh. Linh Sơn nơi đâu?
Linh Sơn, Linh Sơn! Khách vạch mây vén khói tìm lại cảnh chùa u tịnh, tìm lại
chú chuột bạch và con nhện rút tơ lòng, nhưng càng tìm lại càng thấy cảnh trước
mắt hoang vu. Dìu dịu hương đưa, đàn ca không dứt, chúng tiên đương tụ hội chúc
rượu mời Ngọc Đế.
Cảnh
trí quay cuồng trong đầu và trong mắt, có vật gì quật mạnh vào gáy làm Khách
gục ngã.
Hai
tai thu lại, không nghe không nói, tới khi mở mắt, tất cả đều hay. Khách đột
ngột thấy mình đứng bên chư tiên, là tiên đồng vận một bộ thiên y màu ánh trăng
năm cũ thanh tao nhã nhặn, rờ lên đầu còn thấy cây trâm bạch ngọc cẩn hai mươi
hạt châu đỏ lấp lánh. Khách ngơ ngác, hoảng loạn nhìn quanh quất, đập vào mắt
chỉ thấy bóng Như Lai mỉm cười từ bi, ngài khe khẽ gật đầu, ấn chu sa trên trán
dường tỏa vầng hào quang làm người chói mắt.
Khách
nhìn mình, nhưng biết đấy cũng không phải là mình, lòng dấy lên một cảm giác
vừa xa lạ vừa thân quen, định quay đầu bỏ chạy, tay chân lại cứng đờ đành chịu
sự sai khiến của Hóa nhi. Khách - Tiên đồng cầm chén ngọc lộ quỳnh tương, mới
đầu còn cung kính mà giây lát đã ngạo mạn khó bì, ngất ngưởng bước tới bên án
thư của Ngọc Đế. Chủ của cả thiên cung điềm đạm vén tay áo, rượu còn chưa đến
môi thì đã bị tiên đồng hắt đổ. Thời gian như ngừng lại, chư tiên hồ không tin
vào mắt mình, ai nấy đều há hốc miệng nhìn y.
Chuyện
gì đang xảy ra đây? – Khách thầm hỏi.
- Ngọc
Đế, khi sáng tạo ra chữ viết, quả thực chúng ta đều đã sai rồi! – Tiên đồng
cười chua xót, giơ tay chỉ từng người đang ngồi phía trước. – Chúng ta… đều đã
sai rồi!
Sai ư? – Khách lại tự vấn mình, thầm khuyên. – Này tiên
đồng ơi, anh đang nói điều gì vậy?
- Sai
rồi! – Tiên đồng không trả lời Khách, nhấc nghiên mực thánh trên án thư của Nam
Tào xuống, nghiên mực chu du qua mấy tầng trời, tưới rải cho vạn sông ngàn núi.
Ngọc
Đế vừa thẹn vừa giận, nộ khí bừng bừng, miệng ngọc thét lệnh, đày tiên đồng
xuống hạ giới làm nô lệ của lũ ký tự quỷ ma. Khách thấy hai tai ù đi, trước mắt
tối sầm, toàn thân chao đảo, văng vẳng trên đầu là tiếng cười hào sảng của Như
Lai. Nhân quả.
Khách
bừng tỉnh, người nhễ nhại mồ hôi, ngoài kia, trời đã quang tỏ, không khí
đẫm sương nhờ nhờ hòa lẫn với hương trầm trà thanh khiến khách sung sướng tột
cùng. Thảy đều là ác mộng mà thôi, Linh Sơn vẫn ở ngay đây. Khách xuống khỏi
chõng tre, xỏ giày cỏ một cách hào hứng, tiết trời se se mà khách lại cảm thấy
trong người nóng bừng, xúc động khôn tả. Trăm nghìn năm rồi, đã trăm nghìn năm
rồi. Khách phải thăm thú khắp thánh địa phật môn cho thỏa!
Khách
chầm chậm dạo bước.
Gió
thoảng hương lá sen tàn, ruổi trên mặt hồ gợn sóng lăn tăn, cành sen gãy gập
nhúng bùn, thoáng chốc vấy bẩn. Bốn mùa luân chuyển, sen nở rồi tàn, chỉ trông
cánh thắm, nhụy vàng, hương ngát mà chẳng hay bùn đang ở dưới thân. Liệu hoa có
còn dám nở nếu biết gốc ngọn đã từng hoen ố? Dòng suy tưởng rót sâu vào cõi
lòng làm tái hiện cảnh cũ chốn thiên tiên. Đánh đổ nghiên mực thánh, hòa vào
dòng đời văn tạo nghiệt kiếp không thể siêu sinh. Có sự trừng phạt nào lớn hơn?
Khách hít sâu một hơi, cố đè nén cơn uất nghẹn. Trong mùi của nắng nhạt chợt
nghe tiếng thở dài vọng về từ cõi u minh, như có như không. Bấy giờ khách mới
khôi phục sự minh mẫn, kịp phát hiện chân đã đưa lối tới am nhỏ thờ người con
gái cố chấp năm nao.
Tường
rêu bong tróc, sân gạch loang lổ phủ rêu hằn dấu của thời xuân đã qua là không
bao giờ trở lại, thảo mộc thâm u lạnh lẽo, cổ am hoang lạnh trầm ngâm chẳng nói
một lời, quyết không đối thoại với hậu thế hòng giải tỏa tù ngục trong lòng
suốt mấy ngàn năm. Qua cánh cửa khép hờ, khách lờ mờ nhìn thấy ánh ngọc xanh
lóe lên buốt giá. Dường bị mê hoặc, khách bất giác đặt gót tiến lên, đẩy tấm gỗ
mỏng đã bị mối mọt ăn ruỗng, mang lại hơi thở sinh mệnh sau trăm năm chết lặng
của nơi này.
Khối
người ngọc đặt trên án thờ, không chút tì vết, đôi tay chắp lại đặt lên ngực
đầy an yên. Làn gió se buốt thì thầm bên tai làm khách rùng mình, nghe gáy rờn
rợn rung lên một niềm hãi sợ. Không hay lần khói bắt nguồn từ đâu, nhào ra trên
xác ngọc, chợt thấy bóng ai thấp thoáng đứng ngay án thờ. Có mùi máu tanh vảng
vất, bóng người kia tan biến, cũng đột ngột như khi xuất hiện. Từ hốc mắt của
xác ngọc, những giọt nước ấm đỏ chầm chậm rỏ xuống, nhuốm đỏ cả khối ngọc lam.
Hai
chân nhũn ra, khách ngồi thụp xuống, tê dại. Máu, nhiều máu quá! Khách cố gắng
vươn tay hòng lau đi giọt hồng đang lăn tròn trên gò má xác ngọc nhưng lại
chẳng thể cử động nổi, ngực chua xót, cứ thế ngồi vậy mà khóc rưng rức,
không dám nhìn vào ngón ngọc, chỉn e nàng sẽ hồi sinh.
- Sao
thí chủ lại khóc? – Sư thầy đi ngang qua am nhỏ, nghe tiếng động liền bước vào
xem, trông thấy khách bi thương chợt mỉm cười ôn tồn hỏi.
Khách ngẩng đầu lên, trông thấy ngài, nước mắt lại giàn
giụa:
- Thưa
thầy, con từng nghe rằng: Bao giờ đá nhỏ huyết lệ thì loài người tuyệt diệt.
Nhân loại đáng hận mà cũng đáng thương lắm, liệu họ có hay rồi một mai tinh cầu
sẽ trở về với cát bụi. Không còn gì nữa. Lòng nhân ái, tình yêu thương, sự hận
thù, các nền văn minh, chữ viết… Tất cả… Biến mất!
Khách nghẹn ngào. Sư thầy đăm đắm nhìn khối ngọc lam nay đã
hóa thành huyết ngọc, chậm rãi nói:
- Con ơi, huyết lệ đã đổ xuống vô số
trên thế gian này. Những anh hùng, những con người vô danh, những kẻ hô mưa gọi
gió trên vũ đài lịch sử và ngay cả Tạo hóa cũng đã từng như vậy, huống hồ chi
là khối người ngọc có linh tính, có nghĩa tình. Nhân gian chưa từng độ lượng.
Gió mây vạn tượng, bãi bể nương dâu, đâu có gì là trường tồn mãi mãi.
- Nhưng
con không cam tâm thưa thầy.
Vị sư già đưa tay vỗ nhẹ đầu khách, tay lần tràng hạt, bình
thản cười bảo:
- Sự
đau khổ của loài người chẳng phải cũng bắt nguồn từ sự không cam tâm đấy sao.
***
Mây vẩn tầng không, ai đang đứng đợi ven sông? Ở nơi ấy, ai
là ai? Ai chống thiền trượng đi khắp nơi, ai bảo mình muốn tìm cõi luân
hồi? Đò cập bến, lão lái đò kính cẩn thưa:
- Sư
thầy, người muốn đi đâu?
Thiền sư bước lên đò, từ tốn ngồi xuống, bảo:
- Ta
muốn sang sông.
Lão lái đò cười khà khà, chống chèo nhấc con đò rời khỏi
Linh Sơn.
- Bẩm,
bên kia sông thì mờ khói mịt sương…
***
Chú thích:
(*) Nguyên văn: “Bồ đề nào phải cây, gương sáng đâu là đài,
nếu không là gì cả, sao vướng bụi trần ai?” của Lục Tổ Huệ Năng.
(**) Hai câu thơ trong bài “Thị tịch” của Tĩnh Giới Thiền
sư. Bản dịch của Ngô Tất Tố.
Nguồn: Tạp chi Văn Mới số 9

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét